VÌ SAO HIỂU ĐƯỢC KHUYNH HƯỚNG DI TRUYỀN VỀ DINH DƯỠNG CỦA TRẺ LÀ CẦN THIẾT?

16.10.2020

Những năm tháng đầu đời có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến chất lượng cuộc sống của trẻ sau này. Trẻ cần một chế độ dinh dưỡng hợp lý để có thể phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, chống chịu tốt với bệnh tật. Nguồn thực phẩm dồi dào và đa dạng hiện nay vừa là thuận lợi, nhưng cũng là thử thách cho các bậc cha mẹ cần chọn thực phẩm cho con.

Hiểu được khuynh hướng di truyền của trẻ về dinh dưỡng sẽ giúp cha mẹ chọn được chế độ dinh dưỡng phù hợp nhất cho trẻ.

Cách cơ thể chúng ta sử dụng chất dinh dưỡng để tồn tại là mối quan tâm lớn của các nhà khoa học từ xưa đến nay. Khoa học về Dinh dưỡng ra đời từ thế kỷ 18 đã trả lời dần nhiều câu hỏi quan trọng như vai trò của các loại chất dinh dưỡng khác nhau đối với cơ thể, nhu cầu dinh dưỡng ở các độ tuổi, quan hệ giữa dinh dưỡng và nhiều bệnh mạn tính ở người,… Gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ ứng dụng trong lĩnh vực sức khoẻ, khoa học về Dinh dưỡng tiến thêm một bước dài. Khái niệm “Di truyền dinh dưỡng” (nutrigenetics) ra đời năm 1975 để phân tích về ảnh hưởng của di truyền đối với chế độ ăn uống của một người.

“Di truyền dinh dưỡng” là gì?

“Di truyền dinh dưỡng” nghiên cứu quan hệ giữa dinh dưỡng và kiểu di truyền. Mỗi người có kiểu di truyền khác nhau được quy định bởi các gene của họ. Các gene quy định cách cơ thể đáp ứng với một chất dinh dưỡng nhất định; người có biến thể bất lợi trên gene FTO có nguy cơ béo phì cao hơn người không mang biến thể này tuy cùng tiêu thụ môt lượng chất béo như nhau. Ngay cả cách người ta chọn lựa thức ăn cũng phụ thuộc một phần vào kiểu di truyền. Ví dụ người có khuynh hướng di truyền cảm nhận vị đắng cao hơn mức bình thường sẽ tránh mọi thức ăn hơi có vị đắng mà người khác không nhận ra. Mặt khác, chất dinh dưỡng cũng có thể tác động ngược lại làm thay đổi hoạt động của gene và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ. Ví dụ các chất EGCG hiện diện trong trà xanh có khả năng ức chế nhiều gene liên quan đến sự hình thành khối u, giúp ngừa ung thư.

Vì sao cha mẹ nên biết về “di truyền dinh dưỡng” của trẻ ?

Hiện nay, các khuyến nghị của các tổ chức quốc gia và quốc tế về dinh dưỡng đều được xây dựng dựa vào các nghiên cứu trên dân số chung. Những khuyến nghị này đúng cho đa số nhưng càng ngày càng xuất hiện nhiều bằng chứng cho thấy có nhiều ngoại lệ. Việc áp dụng một mức khuyến nghị chung có thể gây tác động bất lợi trong một số trường hợp.

Sau đây là một số ví dụ. Khả năng chuyển hoá caffeine (có trong cà-phê và nhiều thức uống khác) khác nhau tuỳ theo kiểu di truyền. Tuỳ loại biến thể trên gene CYP1A2 mà một người sẽ có khả năng chuyển hoá caffeine nhanh, chậm hay bình thường. Với cùng một lượng caffeine tiêu thụ, người có kiểu gene “chuyển hoá chậm” dễ gặp tác hại cho sức khoẻ tim mạch trong khi người “chuyển hoá nhanh” không bị ảnh hưởng. Khả năng giảm béo nhiều hay ít khi theo chế độ ăn giàu hay nghèo đạm của một người phụ thuộc loại biến thể trên gene FTO của họ. Từ nhiều bằng chứng khoa học, năm 2015 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ra hướng dẫn về hàm lượng folate cần cho bà mẹ mang thai để hạn chế dị dạng ống thần kinh ở thai nhi dựa trên kiểu gene MTHFR. Đây là minh hoạ sinh động cho vai trò ngày càng quan trọng của di truyền trong dinh dưỡng. (Simopoulos 2010; Fenech et al 2011; Ramos-Lopez et al 2017).

Như vậy, trẻ em với những nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu cho một cơ thể đang phát triển và hoàn thiện cần được thụ hưởng một chế độ dinh dưỡng phù hợp với những đặc điểm di truyền của chính mình.

Môi trường dinh dưỡng có vai trò quan trọng bên cạnh khuynh hướng di truyền

Dinh dưỡng cho trẻ không chỉ đơn giản là cung cấp vật phẩm, mà còn là tạo thói quen ăn uống lành mạnh và môi trường tích cực. Khi còn nhỏ, trẻ quan sát và bắt chước cha mẹ và người chăm sóc trong mọi việc kể cả thói quen ăn uống. Nếu được tập thói quen tốt từ sớm, trẻ sẽ duy trì được điều này khi lớn lên. Đến tuổi thiếu niên, trẻ sẽ dễ bị tác động bởi nhiểu yếu tố xã hội không phải lúc nào cũng có lợi, từ bạn bè hay từ các thần tượng của trẻ. Ví dụ như xu hướng tiêu thụ thức ăn nhanh, đồ uống có ga quá ngọt, chứa chất kích thích,… Lúc đó, nếu được tập thói quen ăn uống ành mạnh từ sớm, trẻ sẽ dễ cưỡng lại các cám dỗ có hại cho sức khoẻ.

Ghrelin là một hormone do hệ tiêu hoá sản sinh có liên quan đến cảm giác no hay đói. Khi dạ dày rỗng, chất này được tiết vào máu, đi đến vùng “dưới đồi” (hypothalamus) ở não và làm xuất hiện cảm giác đói. Khi ăn no, hàm lượng ghrelin trong máu giảm. Tuy nhiên, một số vùng não khác có thể ức chế tác động của ghrelin; ví dụ như khi quá bận hay lo âu, ta không thấy đói.

Do đó, tâm trạng vui vẻ, thoải mái khi được ngồi cùng những người thân thiết sẽ khiến trẻ cảm nhận được niềm vui khi ăn, sẵn sàng tiếp nhận những thực phẩm lành mạnh. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên các bậc cha mẹ nên tạo thói quen ăn uống tốt cho trẻ từ bé, thông qua việc làm gương và đảm bảo một môi trường gia đình ấm áp, đáng tin cậy cho trẻ.

MỌI GIẢI ĐÁP/ TƯ VẤN VUI LÒNG LIÊN HỆ (028) 22133254