CHẤT DINH DƯỠNG NÀO QUAN TRỌNG NHẤT CHO TRẺ? THỪA THIẾU CÁC CHẤT NÀY SẼ CÓ TÁC HẠI GÌ ?

09.09.2020

Cơ thể chúng ta, đặc biệt ở trẻ đang lớn, cần nhiều thành phần dinh dưỡng đa dạng. Các thành phần này được chia thành hai nhóm lớn: chất dinh dưỡng đa lượng và chất dinh dưỡng vi lượng. Một khái niệm cần lưu ý là chất dinh dưỡng “thiết yếu”; đó là những chất, có thể là đa lượng hay vi lượng, mà cơ thể cần nhưng lại không thể tự tổng hợp và phải thu nhận từ thức ăn đồ uống. Có 9 loại axit amin, 2 axit béo, 13 vitamin và 15 khoáng chất được xếp vào nhóm chất dinh dưỡng “thiết yếu”.

CHẤT DINH DƯỠNG ĐA LƯỢNG

Chất dinh dưỡng đa lượng là những chất mà cơ thể cần với lượng lớn để tăng trưởng, bù đắp những hư tổn và tạo năng lượng cho các hoạt động sống. Chúng bao gồm carbohydrate, protein và chất béo.

Carbohydrate (bột đường): Là nguồn cung cấp năng lượng chính cho sự tồn tại và hoạt động của cơ thể. Carbohydrate bao gồm tinh bột, đường và chất xơ.

  • Đường: Bao gồm đường đơn như glucose có nhiều trong mật ong, trái cây ngọt, bắp ngọt, đường đôi như lactose có trong sữa, sucrose trong trái cây. Đường kết tinh là nguyên nhân chính khiến lượng đường huyết tăng vọt, nên cần được sử dụng hạn chế.
  • Tinh bột: Do nhiều đường đơn kết hợp lại; ví dụ như khoai tây, gạo, nếp, bắp, các loại đậu,…
  • Chất xơ: Chất xơ gồm hai loại. Loại không hoà tan không được tiêu hoá; còn loại hoà tan có thể được tiêu hoá một phần bởi các vi khuẩn đường ruột. Các loại hạt, ngũ cốc nguyên cám, đậu chứa cả hai loại chất xơ. Chất xơ rất cần cho hoạt động tiêu hoá bình thường, hạn chế táo bón và tiêu chảy. Chất xơ còn giúp làm giảm nguy cơ ung thư trực tràng.

Protein (đạm): Là thành phần giúp cơ thể hình thành, phát triển và hoạt động. Cơ thể chúng ta bao gồm hàng ngàn loại protein khác nhau. Các protein được hình thành từ các axit amin. Có 20 loại axit amin, 9 trong số đó là “thiết yếu”; đó là phenylalanine, valine, threonine, tryptophan, methionine, leucine, isoleucine, lysine và histidine.

Chất béo: Rất cần cho sự hình thành tế bào thần kinh, sự tạo máu, đáp ứng miễn dịch của cơ thể, hoạt động của tim, tạo nội tiết tố, hình thành lớp bảo vệ cơ thể dưới da. Chất béo bao gồm mỡ và dầu. Mỡ có nguồn gốc động vật, ở dạng đặc hay sệt như mỡ heo, bò, bơ,… Dầu đến từ thực vật, thường có dạng lỏng ở nhiệt độ phòng như dầu nành, dầu ô-liu,…

Về mặt hoá học, chất béo được phân thành chất béo bão hoà và chất béo không bão hoà (đơn và đa). Dù chất béo bão hoà thường được xem là tác nhân làm tăng cholesterol trong máu; nhưng tỉ lệ chất béo bão hoà trong tổng lượng chất béo tiêu thụ mới là điều thực sự quan trọng. Cụ thể, lượng chất béo bão hoà chỉ nên chiếm khoảng 1/3 tổng lượng chất béo tiêu thụ hàng ngày.

Trong nhóm chất béo không bão hoà đa có hai nhóm acid béo “thiết yếu” là omega-3 có nhiều trong cá béo; và omega-6 hiện diện trong một số loại dầu thực vật (hướng dương, đậu nành,…), đặc biệt nhiều trong thực phẩm chiên công nghiệp. Chế độ ăn lành mạnh chứa tỉ lệ 4 omega-6/1 omega-3. Trong khi hiện nay, tỉ lệ này ở các nước công nghiệp hoá và các thành phố lớn lên đến 15 omega-6/1 omega-3!

CHẤT DINH DƯỠNG VI LƯỢNG

Chất dinh dưỡng vi lượng là những chất cần thiết cho hoạt động của cơ thể với lượng rất nhỏ, bao gồm các vitamin và khoáng chất.

Vitamin

  • Vitamin A: Cần cho thị lực, nhất là khi cần nhìn ban đêm, ở chỗ ít sáng. Vitamin này cũng cần cho hoạt động của hệ miễn dịch. Vitamin A tan trong dầu nên cần được hấp thu cùng với dầu/mỡ; và kẽm. Vitamin A có nhiều trong nội tạng động vật, trứng, sữa ở dạng dễ tiêu thụ; cũng như trong thực vật có màu đỏ, cam (cà-rốt, bí đỏ, cà chua,…) ở dạng tiền chất phải được cơ thể biến đổi trước khi sử dụng. Hấp thu quá mức vitamin A gây một số tác động tiêu cực, ví dụ như hạn chế sự phát triển một số xương dài ở trẻ,… Nhiều loại kem trị mụn chứa nhiều vitamin A, nên khi sử dụng cần lưu ý cân đối với lượng vitamin A trong thực phẩm.
  • Các vitamin nhóm B (B2, B6, B9, B12): Cần cho việc tạo năng lượng cho cơ thể đang lớn của trẻ. Do tan trong nước nên chúng không được dự trữ trong cơ thể; vì vậy dễ gặp tình trạng thiếu hụt hơn là dư thừa. Trẻ lờ đờ, thiếu máu, dễ cáu gắt, khó tập trung, dễ bị trầm cảm có thể là dấu hiệu thiếu vitamin nhóm B, nếu không mắc một bệnh nào khác.

Bên cạnh chức năng chung của các vitamin nhóm B là giúp cơ thể sản sinh năng lượng từ carbohydrate, đạm và chất béo, các vitamin nhóm B còn có những chức năng riêng. Vitamin B2 (riboflavin) và B9 (folate) cần cho sự tạo hồng cầu. Sức khoẻ và hoạt động của hệ thần kinh cần sự hiện diện của vitamin B2, B6 (pyroxine), B9, B12 (cobalamin). B6 cần cho sự tạo thành các enzyme, nội tiết tố, chất dẫn truyền thần kinh,… B9 và B12 cần cho sự tăng trưởng cơ thể, sức khoẻ tổng quát.

Vitamin B2 có nhiều trong nấm, gan bò, sản phẩm từ sữa, trứng, thịt đỏ, cá, gà vịt,… B6 có nhiều trong hầu hết các loại rau, quả mọng, chuối, cá, thịt đỏ, gà vịt,… B9 được tìm thấy nhiều trong rau có lá xanh đậm, rong biển, bưởi, dưa lưới,… B12 hiện diện trong thịt đỏ, gà vịt, cá và sò ốc, sản phẩm từ sữa,…

  • Vitamin C: Đây là chất chống oxy hoá quan trọng và cần cho hoạt động của hệ miễn dịch. Vitamin C giúp cơ thể sản sinh collagen, thành phần chủ chốt trong gân, dây chằng, sụn, xương, thành mạch máu, giác mạc, da,… Trẻ bị dị ứng, suyễn, tiểu đường, uống kháng sinh thường xuyên cần lượng vitamin C cao hơn mức bình thường. Dễ bị bầm da, chảy máu nướu răng, mắc bệnh đường hô hấp có thể do thiếu vitamin C. Vitamin C dễ bị phân huỷ bởi ánh sáng, không khí và nhiệt; do đó nguồn vitamin C tốt nhất là rau quả tươi, gan động vật.
  • Vitamin D: Vô cùng thiết yếu cho trẻ vì đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển và sức khoẻ của xương. Vitamin D điều hoà hàm lượng can-xi trong máu và xương. Thiếu vitamin D có thể gây ra các bất thường xương, tình trạng viêm như viêm nướu. Hải sản, sữa, trứng là những nguồn vitamin D. Phơi nắng trong thời gian ngắn cũng cung cấp đủ lượng vitamin D cho trẻ, ngay cả khi có bôi kem chống nắng.
  • Vitamin E: Là chất chống oxy hoá, đặc biệt quan trọng cho trí nhớ và hoạt động của não bộ nói chung. Để cơ thể hấp thu được tốt vitamin E, chế độ dinh dưỡng cần có đủ một số chất oxy hoá khác như vitamin C, selenium,… và dầu/mỡ vì đây là một chất hoà tan trong chất béo. Vitamin E được tìm thấy nhiều trong các loại hạt, rau có lá sẫm màu, khoai lang, trái kiwi,…

Khoáng chất

Cơ thể cần nhiều khoáng chất để hoạt động tốt; trong đó có những chất cần được đặc biệt lưu ý.

  • Muối ăn: Thực phẩm thường chứa nhiều muối hơn mức cần thiết (khoảng 1 muỗng cà phê/ngày). Việc thu nhận quá nhiều muối khiến cơ thể giữ nước quá mức, làm tăng thể tích máu và dẫn đến tăng huyết áp. Điều này dễ dẫn đến các bệnh tim mạch và đột quỵ. Trên nhãn thực phẩm, từ “sodium” là để chỉ muối ăn.
  • Can-xi: Cần cho sự tạo xương ở trẻ đang lớn, giúp xương chắc, khoẻ. Can-xi còn cần cho hoạt động co bóp của tim và cơ. Nhưng tiêu thụ một lượng can-xi quá lớn có thể gây sỏi thận. Cơ thể cần vitamin D để có thể hấp thu tốt can-xi.
  • Sắt: Cần cho sự tạo hồng cầu, rất quan trọng khi cơ thể đang lớn của trẻ cần vận chuyển ngày càng nhiều oxy hơn; và đặc biệt cần thiết khi trẻ gái bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt. Sắt còn là nhân tố chủ chốt cho sự hình thành và phát triển não bộ. Ở trẻ theo chế độ ăn chay, vitamin C cần cho sự hấp thu sắt từ nguồn thực vật.
  • Kẽm: Kẽm cần cho quá trình tăng trưởng và trưởng thành về mặt sinh dục của trẻ. Đây là yếu tố cần cho hoạt động của hệ miễn dịch. Thiếu kẽm sẽ khiến trẻ kém phát triển, rối loạn hệ sinh dục, dễ mắc bệnh, làm giảm hoạt động chuyển hoá khiến cơ thể dễ tăng cân.

Nhìn chung, hậu quả của một chế độ dinh dưỡng mất cân bằng đối với trẻ có thể là:

  • Tăng trưởng và phát triển kém.
  • Gặp khó khăn trong học tập.
  • Có một số vấn đề về hành vi
  • Béo phì
  • Tiểu đường týp 2
  • Thiếu máu do thiếu sắt
  • Một số bệnh về xương
  • Một số vấn đề về da như chàm,…
  • Tiêu chảy hoặc táo bón
  • Dễ mắc cảm cúm,…

Như vậy, bên cạnh hậu quả về thể chất, dinh dưỡng còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tinh thần ở trẻ. Chẳng hạn như trẻ không ăn sáng sẽ học tập kém hơn là khi chúng được cung cấp bữa sáng đủ chất; điều này liên quan đến hàm lượng đường trong máu thấp khiến khả năng tập trung giảm trong khi cảm giác đói và mệt tăng. Một nghiên cứu khác cho thấy việc cung cấp đủ thiamine (vitamin B1) sẽ làm giảm tính gây hấn ở các thiếu niên bị thiếu hụt chất này.

MỌI GIẢI ĐÁP/ TƯ VẤN VUI LÒNG LIÊN HỆ (028) 22133254