DI TRUYỀN DINH DƯỠNG LÀ GÌ?

06.07.2020

CÁC KHUYẾN NGHỊ DINH DƯỠNG CÓ PHÙ HỢP CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI ?

Hiện nay, các khuyến nghị của các tổ chức quốc gia và quốc tế về dinh dưỡng đều được xây dựng dựa vào các nghiên cứu trên dân số chung. Những khuyến nghị này đúng cho đa số chúng ta nhưng càng ngày càng xuất hiện nhiều bằng chứng cho thấy có nhiều ngoại lệ. Chắc hẳn chúng ta đều sẽ bắt gặp đâu đó trong những người thân, bạn bè sẽ có những người đặc biệt thích ăn ngọt, những người thích ăn béo, những người hay say cà phê, những người ghét đồ ăn đắng, hay những người “hít không khí” thôi đã béo, … Vì sao lại như vậy và có quy luật chung nào không?

Cách cơ thể chúng ta sử dụng chất dinh dưỡng để tồn tại là mối quan tâm lớn của các nhà khoa học từ xưa đến nay. Khoa học về Dinh dưỡng ra đời từ thế kỷ 18 đã trả lời dần nhiều câu hỏi quan trọng như vai trò của các loại chất dinh dưỡng khác nhau đối với cơ thể, nhu cầu dinh dưỡng ở các độ tuổi, quan hệ giữa dinh dưỡng và nhiều bệnh mạn tính ở người, … Gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ ứng dụng trong lĩnh vực sức khoẻ, khoa học về Dinh dưỡng tiến thêm một bước dài. Khái niệm “Di truyền dinh dưỡng” (nutrigenetics) ra đời năm 1975 để phân tích về ảnh hưởng của di truyền đối với chế độ ăn uống của một người.

“Di truyền dinh dưỡng” nghiên cứu quan hệ giữa dinh dưỡng và kiểu di truyền. Mỗi người có kiểu di truyền khác nhau được quy định bởi các gene của họ. Các gene quy định cách cơ thể đáp ứng với một chất dinh dưỡng nhất định; người có biến thể bất lợi trên gene FTO có nguy cơ béo phì cao hơn người không mang biến thể này tuy cùng tiêu thụ một lượng chất béo như nhau. Ngay cả cách người ta chọn lựa thức ăn cũng phụ thuộc một phần vào kiểu di truyền. Ví dụ người có khuynh hướng di truyền cảm nhận vị đắng cao hơn mức bình thường sẽ tránh mọi thức ăn hơi có vị đắng mà người khác không nhận ra. Mặt khác, chất dinh dưỡng cũng có thể tác động ngược lại làm thay đổi hoạt động của gene và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ. Ví dụ các chất EGCG hiện diện trong trà xanh có khả năng ức chế nhiều gene liên quan đến sự hình thành khối u, giúp ngừa ung thư.

Như vậy, việc áp dụng một mức khuyến nghị chung có thể gây nguy hiểm trong một số trường hợp. Một ví dụ là khả năng chuyển hoá caffeine (có trong cà-phê và nhiều thức uống khác) ở những người có kiểu di truyền khác nhau. Tuỳ loại biến thể trên gene CYP1A2 mà một người sẽ có khả năng chuyển hoá nhanh, chậm hay bình thường lượng caffeine tiêu thụ. Ở người có kiểu gene “chuyển hoá chậm”, việc tiêu thụ cùng một lượng caffeine sẽ có tác hại cho sức khoẻ tim mạch trong khi người “chuyển hoá nhanh” không bị ảnh hưởng. Một ví dụ khác cho thấy khả năng giảm béo nhiều hay ít khi theo chế độ ăn giàu hay nghèo đạm của một người phụ thuộc loại biến thể trên gene FTO của họ.

Từ những bằng chứng khoa học tích luỹ, năm 2015 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ra hướng dẫn về hàm lượng folate cần cho bà mẹ mang thai để hạn chế dị dạng ống thần kinh ở thai nhi dựa trên kiểu gene MTHFR mà thai phụ mang. Đây là minh hoạ sinh động cho vai trò ngày càng quan trọng của di truyền trong dinh dưỡng. Như vậy, không thể có khuyến nghị áp dụng được cho tất cả mọi người. Chế độ dinh dưỡng tối ưu là chìa khóa của việc phát triển thể chất và tinh thần khỏe mạnh. Do đó các nghiên cứu di truyền dinh dưỡng hướng đến xây dựng chế độ dinh dưỡng cá nhân hóa, một chế độ dinh dưỡng được may đo riêng cho từng cá nhân. Đó chính là tương lai mà lĩnh vực dinh dưỡng sẽ hướng đến dựa trên các nghiên cứu của di truyền dinh dưỡng.

Mỗi người là một thực thể duy nhất, cớ sao phải theo ăn uống theo những lời khuyên chung?

Tài liệu tham khảo: Caterina RDE. et al., Principles of Nutrigenetics and Nutrigenomics: Fundamentals of Individualized Nutrition. Academic Press (2019)

MỌI GIẢI ĐÁP/ TƯ VẤN VUI LÒNG LIÊN HỆ (028) 22133254